Showing posts with label epigeneticssciences. Show all posts
Showing posts with label epigeneticssciences. Show all posts

Sunday, 30 June 2019

SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG VÀ UNG THƯ


Tôi không ăn đường trong nhiều năm. Tôi ăn trái cây, nhưng tôi không ăn bất cứ thứ gì có thêm đường. Tôi tin rằng mọi người sẽ tốt hơn nếu không ăn bất kỳ loại thực phẩm được thêm đường. Khi được nói chuyện với Lewis Cantley (một giám đốc trung tâm Ung thư Sandra và Edward Meyer tại Weill Cornell, Mỹ), tôi được biết Tiến sĩ Cantley không bao giờ ăn bất kỳ thực phẩm được thêm đường trong nhiều thập kỷ (cụ thể hơn 40 năm) chứ không phải chỉ là nhiều năm như tôi.  Mita

GIỚI THIỆU

Ý tưởng để viết bài ‘Sự thật về Đường và Ung thư” là khi tôi được đồng nghiệp trình bày trong buổi họp khoa học định kỳ với bài báo “High Glucose Triggers Nucleotide Imbalance through O-GlcNAcylation of Key Enzymes and Induces KRAS Mutation in Pancreatic Cells” được đăng trên tờ Cell Metabolism (một tạp chí top 1 về khoa học y khoa, IF = 22.415) hôm ngày 4 tháng 6 năm 2019. Nhóm tác giả công bố về những bệnh nhân ung thư tuyến tụy hấp thu với lượng đường cao gây ra đột biến KRAS, một gene đột biến khởi đầu ung thư tuyến tụy. Thực ra, lượng đường cao trong cơ thể gây ra đột biến khá nhiều gene chứ không chỉ riêng KRAS, KRAS chỉ là một trường hợp được đề cập trong bài báo của nhóm tác giả này mà thôi (Hu CM, và cộng sự, 2019).
Ý tưởng sớm được viết hoàn chỉnh hơn nhờ động lực của các thành viên cộng đồng BỆNH VIỆN ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ ONLINE do MedixLink thành lập trên Facebook (thực ra đây là nơi hỗ trợ bệnh nhân ung thư thì đúng hơn là bệnh viện điều trị bệnh ung thư cả nhà ạ) mong muốn được hiểu rõ SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG VÀ BỆNH NHÂN UNG THƯ.

ĐƯỜNG CÓ MẶT TRONG THỰC PHẨM CỦA BẠN?

Đường mà tế bào của bạn cần đến từ chế độ ăn uống của bạn mỗi ngày. Đường có đến 60 cái tên khác nhau. Tạm chia đường thành hai nhóm: nhóm phân tử nhỏ, thường được biết đến với gốc –ose ở đuôi (như glucose, fructose, maltose, sucrose, ….), nhóm này tan trong nước, có vị ngọt và nhóm phân tử lớn hay còn gọi là polisaccharides, thành phần chính của tinh bột (như gạo, bánh mì, rau củ quả), nhóm này không tan trong nước, không có vị ngọt. Cụ thể, bạn nạp đường vào cơ thể từ: trái cây chín (fructose), rau củ (glucose), sữa (lactose), carbohydrate (bánh mì, gạo), nước ngọt, bánh kẹo, ….

GLUCOSE QUAN TRỌNG VỚI CƠ THỂ NHƯ THẾ NÀO?

GLUCOSE LÀ NHIÊN LIỆU CỦA TẾ BÀO. Tế bào cần năng lượng (ATP) để tham gia các quá trình chuyển hóa bên trong cơ thể, giúp chúng ta nhìn, chúng ta thở, chúng ta cảm giác, chúng ta suy nghĩ và .... Và quá trình tạo ra ATP bắt đầu từ glucose. Glucose là nhiên liệu cơ bản nhất của tế bào. Nếu chúng ta ăn hoặc uống glucose (nước ngọt, bánh kẹo) thì glucose được hấp thụ trực tiếp vào máu và sẵn sàng cho tế bào sử dụng. Nếu chúng ta ăn tinh bột (khoai lang, khoai mì, …) thì một loại enzyme tên là saliva (amylase, từ tuyến nước bọt) sẽ phân cắt các phân tử polisacharide này và chuyển hóa thành glucose cho tế bào sử dụng. Một số trường hợp, chế độ ăn loại bỏ hoàn toàn carbohydrate (không có bất kỳ thành phần nào chuyển thành glucose) thì tế bào sẽ đốt cháy mỡ và phân giải protein thành glucose để sử dụng.
Các bạn biết đấy, ung thư là bệnh của tế bào!!!

ĐƯỜNG và UNG THƯ

Tế bào ung thư phát triển cực nhanh, nên chúng cần lượng lớn năng lượng. Có nghĩa là chúng cần lượng lớn glucose. Ngoài ra, tế bào ung thư cũng cần lượng lớn nguồn dinh dưỡng khác như amino acids, chất béo chứ không chỉ đường.
Một câu hỏi đặt ra rằng: nếu tế bào ung thư cần nhiều đường như thế thì chúng ta cắt bỏ hoàn toàn đường ra chế độ ăn để ngừng sự phát triển ung thư? NO NO NO KHÔNG ĐƠN GIẢN NHƯ VẬY!!!!!!!!! TẤT CẢ TẾ BÀO KHỎE MẠNH VÀ UNG THƯ ĐỀU CẦN ĐƯỜNG ĐỂ TỒN TẠI CÁC BẠN Ạ.
Hiện nay vẫn chưa có bằng chứng nào báo cáo về việc LOẠI BỎ HOÀN TOÀN ĐƯỜNG RA KHỎI CHẾ ĐỘ ĂN thì giảm nguy cơ ung thư và kéo dài thời gian sống của BỆNH NHÂN UNG THƯ. Nhưng có công bố ở chuột (Hopskin, 2018) về một chế độ ăn hạn chế nghiêm ngặt carbohydrate (chế độ keto) kết hợp với thuốc chống PI3K thì khối u đã co lại.

TẠI SAO CHÚNG TA LO LẮNG NẾU ĐƯỜNG KHÔNG PHẢI NGUYÊN NGÂN GÂY UNG THƯ?

Đường không phải là tác nhân TRỰC TIẾP gây bệnh ung thư. Tại sao chúng ta luôn khuyến khích giảm thiểu lượng đường trong chế độ ăn hằng ngày.
Lý do thứ nhất: tăng cân do tiêu thụ lượng đường lớn trong thời gian dài là nguyên nhân gây ung thư. Mà béo phì làm tăng nguy cơ của 13 loại ung thư (Tổ chức CRU công bố), đứng sau thuốc lá.
Lý do thứ hai: khi lượng đường trong máu biến động đột ngột, cơ thể bạn bị rối loạn đáp ứng với đường. Khi lượng đường trong máu tăng cao, cơ thể giải bạn giải phóng chất tăng trưởng giống như insulin (IGF), đặc biệt ở người bị kháng insulin (insulin-resistant), yếu tố này giúp tế bào ung thư phát triển. Nếu bạn kiểm soát được mức độ đường huyết trong máu thì IGF giải phóng ít hơn và có khả năng làm giảm sự phát triển ung thư. Có nghĩa là, insulin cao là con đường dẫn đến ung thư, mà đường là tác nhân gây insulin cao (Marcia N. Paddock, và cs, 2019).

CÁCH CHÚNG TA CẮT GIẢM ĐƯỜNG

Để giảm thiểu sự thay đổi đột ngột lượng đường trong máu, bạn không nên tránh tất cả các loại đường trong thực phẩm mà bạn hãy là người thông thái khi quyết định cái gì nên và cái gì không nên nuốt vào dạ dày. Nếu bạn ăn chất xơ, protein, chất béo giúp cơ thể bạn tạo ít insulin hơn để đáp ứng với đường đơn. Sau đây là một số cách Mita gợi ý:
  1. Thay vì ăn khoai tây chiên, chọn các loại hạt. Thay vì chọn các loại hạt tẩm đường thì chỉ chọn loại hạt rang chín không gia vị.
  2. Thay vì uống nước ngọt, chọn nước suối.
  3. Thay vì ăn bánh kẹo, chọn hoa quả.
  4. Thay vì ăn cơm trắng thì chọn cơm nâu hoặc các loại củ thay thế.
  5. Thay vì ăn nhiều hoa quả thì chọn thêm ít rau xanh.
  6. Cố gắng không ăn món tráng miệng sau bữa ăn mà để dành giữa các bữa ăn.

DÀNH CHO BẠN

  1. Giới hạn đường đơn và tinh bột tách cám trong chế độ ăn của bạn, những món này gồm kẹo, bánh ngọt, thực phẩm nướng, hoa quả khô, bánh mì trắng, gạo trắng.
  2. Giảm hấp thụ đường từ các loại nước uống chứa đường như nước ngọt, nước ép trái cây, soda.
  3. Nạp đường vào cơ thể từ nguồn gốc tự nhiên vì nhóm thực phẩm này ngoài chứa đường (năng lượng cơ bản của tế bào) chúng còn chứa rất nhiều dinh dưỡng như vitamins, khoáng, chất chống oxi hóa (antioxidants), hóa chất thực vật (phytochemicals), và chất xơ là những chất rất tốt cho cơ thể.
  4. Ăn uống lành mạnh chính là ăn đa dạng thực phẩm và chọn lựa những thực phẩm tốt cho sức khỏe, một gợi ý như sau tinh bột nguyên cám (1 phần), thịt nạc (3 phần) , rau xanh (4 phần) và trái cây (2 phần).



Mita hy vọng bài viết này có thể hỗ trợ cho bạn phần nào trong cuộc hành trình chiến đấu với ung thư. Chúc các bạn luôn nhận được năng lượng bình an !


Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy để lại bên dưới, Mita sẽ nỗ lực trả lời trong giới hạn hiểu biết.
Trân trọng,
Mita
Dành thời gian cho điều ý nghĩa!


Tài liệu tham khảo
[1] Hu CM, Tien SC, Hsieh PK, Jeng YM, Chang MC, Chang YT, Chen YJ, Lee EYP, Lee WH, High Glucose Triggers Nucleotide Imbalance through O-GlcNAcylation of Key Enzymes and Induces KRAS Mutation in Pancreatic Cells, Cell Metab., 2019 June 4, 29(6): 1334-1349.e.10.
[2] Paddock MN, field SJ, Cantley LC, Treating cancer with phosphatidylinositol-3-kinase inhibitors: increasing efficacy and overcoming resistance, J Lipid Res., 2019 Apr, 60(4): 747-752.


KẾT NỐI VỚI MITA

----www.mitabio.com--- 
@Page Facebook: Mita
@Youtube: Youtube Mita
@Instagram: mitabio960



Đọc tiếp »

Saturday, 22 June 2019

ĐAU TRONG UNG THƯ VÀ CÁCH KIỂM SOÁT ĐAU UNG THƯ


(bạn muốn xem rõ hình hoặc download hình vui lòng click vào hình để rõ hơn nhé, thân)
Mita mong muốn được chia sớt bớt phần nỗi đau của các bạn đang chiến đấu với UT. Bài viết này góp phần cho bạn có cái nhìn toàn diện về nỗi đau của chính mình và từ đó có chiến lược quản lý nỗi đau cải thiện cuộc sống trong phạm vi của bệnh nhân UT.

Đau là phổ biến ở bệnh nhân UT nhưng không phải tất cả mọi bệnh nhân UT đều bị đau do ung thư (có nghĩa là có bệnh nhân bị đau/ có bệnh nhân không bị đau do UT) mà bị đau gây ra bởi phương pháp điều trị UT. Trong trường hợp UT lan rộng hoặc tái phát thì khả năng bạn bị đau cao hơn bình thường (Treatment of cancer pain, Lancet, 2011). Cơn đau rất đa dạng làm cho chất lượng cuộc sống của bạn giảm sút, đôi khi da bạn tái mẹt, cảm giác đau đớn, cảm giác nóng khó chịu bên trong. Đôi khi ‘đau’ liên tục, đôi khi ‘đau’ thoáng qua, có lúc nhẹ, có lúc trung bình hoặc nghiêm trọng (một cảm giác như thấu cả trời xanh vậy). Mức độ đau tùy thuộc vào nhiều yếu tố: loại UT mắc phải, mức độ tiến triển của UT, vị trí UT và khả năng chịu đau của bạn. Trên tờ Ann Oncol thống kê có 33% ở bệnh nhân ‘đau’ sau điều trị, 59% ở bệnh nhân đang điều trị chống ung thư và 64% ở những bệnh nhân bị bệnh di căn, tiến triển hoặc giai đoạn cuối. Trên tờ Pain Med báo cáo đau có tỷ lệ mắc bệnh sớm trong các loại ung thư cụ thể như ung thư tuyến tụy (44%) và ung thư đầu và cổ (40%).

Và hầu hết các cơn đau UT đều có thể kiểm soát được và việc kiểm soát cơn đau của bạn là điều cần thiết trong tiến trình điều trị UT của bạn. Để kiểm soát đau do ung thư, bệnh nhân được sử dụng thuốc giảm đau như một cách tiếp cận tích hợp để quản lý đau ung thư và điều này nên được kết hợp chặt chẽ với:

 (i) phương pháp điều trị chống ung thư chính;

(ii) liệu pháp giảm đau can thiệp và

(iii) một loạt các kỹ thuật không xâm lấn như tâm lý và

(iv) can thiệp phục hồi chức năng.


Cái gì gây ra cơn đau UT?

1)    Cơn đau do UT gây ra:

Nếu cơn đau là do ung thư, nó có thể là do ung thư phát triển thành hoặc phá hủy các mô lân cận. Khi một khối u phát triển, nó có thể đè lên dây thần kinh, xương hoặc các cơ quan. Khối u cũng có thể giải phóng các hóa chất có thể gây đau. Hoặc phản ứng của cơ thể bạn với các hóa chất có thể gây đau.

2)    Cơn đau do phương pháp điều trị UT gây ra:

Điều trị ung thư có thể giúp giảm đau trong những tình huống này. Tuy nhiên, phương pháp điều trị ung thư, bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, cũng có thể gây đau.


Sự hiện diện cơn đau có thể thuộc hai nhóm sau:
Nhóm 1 (nociceptive): gây ra bởi tổn thương mô liên tục, hoặc soma (như đau xương), hoặc nội tạng (như đau ruột hoặc gan, …)
Nhóm 2 (Neuropathic): gây ra bởi tổn thương hoặc rối loạn chức năng trong hệ thống thần kinh, chẳng hạn như trong bệnh lý cơ tim hoặc ở cột sống chèn ép dây thần kinh do khối u.

Đau do cách điều trị UT

Có nhiều cách khác nhau. Một là loại bỏ nguồn cơn đau thông qua phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc điều trị khác. Mỗi loại điều trị có tác dụng phụ riêng.

1)     Phẫu thuật. Phẫu thuật cắt bỏ ung thư có thể dẫn đến đau ở khu vực phẫu thuật. Phần lớn các cơn đau sau phẫu thuật được cho là có liên quan đến chấn thương thần kinh xảy ra trong quá trình phẫu thuật. Những người bị cắt bỏ chân tay hoặc vú có thể cảm thấy đau như thể chân tay hoặc vú vẫn còn (đau ảo).
2)     Xạ trị. Những phương pháp điều trị này có thể gây đỏ và cảm giác nóng rát của da. Tùy thuộc vào bộ phận nào của cơ thể mà bức xạ được áp dụng, nó có thể gây ra tiêu chảy, lở miệng hoặc các vấn đề khác, chẳng hạn như mệt mỏi.
3)     Hóa trị. Tác dụng phụ có thể bao gồm buồn nôn, mệt mỏi, nhiễm trùng, rụng tóc và đau dây thần kinh (bệnh thần kinh). Thuốc có thể giúp giảm bớt các tác dụng phụ. Kỹ thuật thư giãn cũng có thể giúp đỡ.
4)     Thuốc giảm đau mạnh. Một trong những tác dụng phụ phổ biến của opioids là táo bón. Nó có thể được điều trị bằng thuốc làm mềm phân và thuốc nhuận tràng được bác sĩ khuyên dùng. Ngăn ngừa táo bón dễ hơn điều trị, vì vậy trước khi bạn bắt đầu dùng thuốc phiện hãy hỏi bác sĩ những gì bạn nên làm để giữ cho ruột của bạn di chuyển. Các tác dụng phụ khác của thuốc giảm đau mạnh bao gồm buồn nôn, nôn và buồn ngủ. Những điều này thường xảy ra với một vài liều đầu tiên và biến mất sau vài ngày dùng thuốc.
5)     Thuốc giảm đau khác. Thuốc giảm đau không kê đơn thông thường có thể làm hỏng thận của bạn, gây loét hoặc tăng huyết áp. Aspirin có thể gây chảy máu đường tiêu hóa và acetaminophen (Tylenol, những loại khác) có thể gây tổn thương gan nếu bạn uống quá nhiều hoặc uống rượu trong khi dùng thuốc.

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ ĐAU

1)    Phía bệnh nhân
  • -         Được thông báo về khả năng khởi phát cơn đau ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh, cả trong/ sau khi can thiệp chẩn đoán UT và tác dụng không mong muốn của liệu pháp điều trị UT/ chống UT.
  • -         Bệnh nhân chủ động giao tiếp với bác sĩ về ‘nỗi đau’ của chính mình, về hiệu quả của trị liệu và tác dụng không mong muốn của liệu pháp trị liệu gây ra. Để giao tiếp tốt với bác sĩ điều trị, bệnh nhân cần có chiến lược quản lý cơn đau bằng tự đánh giá cơn đau (Mita sẽ hướng dẫn cách bệnh nhân và người thân thực hiện điều này ở bên dưới bài viết).
  • -         Bệnh nhân được hiểu rõ về thông tin sử dụng opioid thích hợp.

2)    Phía Bác sĩ
Hình 1. Lộ trình điều trị giảm đau ung thư theo WHO
  • -         Phải thông báo cho bệnh nhân rõ các giai đoạn gây đau trong quá trình can thiệp chẩn đoán cũng như trong quá trình trị liệu.
  • -         Giải thích cho bệnh nhân hiểu rõ về thông tin sử dụng opioid thích hợp.
  • -         Trao đổi chi tiết và nhất quán với bệnh nhân/ người chăm sóc của bệnh nhân để hiểu rõ cơn đau của bệnh nhân, từ đó kê toa thuốc giảm đau tối ưu và tác dụng phụ tối thiểu.

CÁCH ĐÁNH GIÁ CƠN ĐAU CỦA BẠN

Đánh giá ban đầu và liên tục về cơn đau nên là một phần không thể thiếu chăm sóc ung thư và bước đầu trong chuỗi điều trị UT hiệu quả. Thang đánh giá bằng lời nói (xác định sự hiện diện cơn đau) và bằng số (xác định mức độ của cơn đau).
Ở bệnh nhân cao tuổi, kỹ năng giao tiếp hạn chế hoặc nhận thức suy giảm hoặc trẻ nhỏ nên người chăm sóc chú ý biểu hiện khuôn mặt, cử động cơ thể, lời nói hoặc giọng nói, thay đổi trong cá nhân tương tác (nhạy cảm với sự chạm nhẹ vào da), thay đổi trong hoạt động thường ngày là chiến lược thay thế để đánh giá sự hiện diện của cơn đau (nhưng không phải đánh giá cường độ đau).
Điều đáng lưu ý là đau khổ tâm lý xã hội liên quan mạnh mẽ với nỗi đau ung thư. Đau khổ tâm lý có thể khuếch đại đau và tương tự, đau được kiểm soát không đầy đủ có thể gây đa khổ tâm lý.


Hình 2. Theo dõi đau 1 (theo nhận dạng biểu cảm khuôn mặt)


Hình 3. Theo dõi đau 2 (theo mức độ đau)

Mita hy vọng bài viết này có thể hỗ trợ cho bạn phần nào giảm nhẹ bệnh trong cuộc hành trình chiến đấu với ung thư. Chúc các bạn luôn nhận được năng lượng bình an !

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy để lại bên dưới, Mita sẽ nỗ lực trả lời trong giới hạn hiểu biết.
Trân trọng,
Mita
Dành thời gian cho điều ý nghĩa! 

----www.mitabio.com--- 

@Page Facebook: Mita

@Youtube: Youtube Mita
@Instagram: mitabio960




Đọc tiếp »

Friday, 14 June 2019

CHIẾN LƯỢC DINH DƯỠNG CẢI THIỆN SỨC KHỎE TỔNG THỂ VÀ SỨC KHỎE BỆNH NHÂN UNG THƯ

Giới thiệu

Ý tưởng để viết bài này là dành cho bệnh nhân ung thư và người thân của họ, nhưng tôi nghĩ tất cả chúng ta người đang khỏe mạnh cũng cần cân nhắc thay đổi chế độ dinh dưỡng tương tự để kiểm soát sức khỏe của mình. 

Mục tiêu chính của việc chăm sóc bệnh nhân ung thư chính là giảm bớt đau khổ và cải thiện chất lượng cuộc sống trong quỹ đạo của bệnh nhân ung thư nói riêng. Hành vi lối sống ảnh hưởng tích cực đến kết quả sức khỏe và tiến triển của bệnh ung thư (khoa học epigenetics đã chứng minh). Dinh dưỡng là yếu tố khá quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và sinh lý bệnh nhân ung thư. Bài viết này giúp bạn cân nhắc chế độ ăn uống và dinh dưỡng một cách hợp lý.

Một điểm nhấn mạnh rằng bài viết này dành cho tất cả các bệnh nhân ung thư nói riêng và mọi người quan tâm đến việc cải thiện sức khỏe tổng quát nói chung. Tuy nhiên, tôi cũng nhận ra rằng có thể có sự khác biệt trong tiếp cận dinh dưỡng đối với mỗi người, mỗi bệnh nhân mắc các loại ung thư là khác nhau. Ví dụ trong trường hợp bệnh nhân mắc ung thư hạch có thể có các yêu cầu khác nhau từ các chất bổ sung khác nhau so với bệnh nhân mắc sarcoma. Tại thời điểm hiện tại, tôi không cảm thấy rằng có đủ dữ liệu để thống kê với những khác biệt này. Ngoài ra, bài viết này liên quan chủ yếu đến bệnh nhân người lớn hơn là trẻ em.

QUAN ĐIỂM TRUYỀN THỐNG

Từ ngày bệnh nhân được tiên đoán là ung thư hoặc chứng bệnh nan y nào đó, người thân và bệnh nhân thường có xu hướng khuyến khích người bệnh ăn bất cứ thứ gì họ thích ăn. Bởi họ nghĩ thời gian sống còn lại rất ngắn và cần giảm bớt chứng sợ hãi. Do đó, bất kỳ loại thực phẩm nào họ cũng cho là thực phẩm tốt cả. Đây là quan điểm chưa đúng!!!

CHIẾN LƯỢC DINH DƯỠNG CẢI THIỆN SỨC KHỎE TỔNG THỂ VÀ SỨC KHỎE BỆNH NHÂN UNG THƯ

Ngược lại quan điểm truyền thống được giới thiệu sơ lược ở trên, tôi đặt tên là CHIẾN LƯỢC DINH DƯỠNG CẢI THIỆN SỨC KHỎE TỔNG THỂ. Bạn - người đang đọc bài viết này - đưa ra quyết định về điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cần xem xét chẩn đoán, tiên lượng, tình trạng và triệu chứng hiện tại, con đường tiến triển bệnh, điều trị và các tác dụng phụ có thể xảy ra, sự thoải mái của bệnh nhân và hỗ trợ xã hội, kinh tế xã hội, quan điểm văn hóa, tôn giáo, vấn đề đạo đức và pháp lý. Bài viết này giới thiệu chế độ dinh dưỡng như một can thiệp sống sót tiềm năng thay vì chỉ duy trì. Kiến thức được tổng hợp đơn giản dễ hiểu nhất (hy vọng không mang văn phong khoa học quá nhiều :)))) có thể hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong đưa ra các khuyến nghị về dinh dưỡng để:
1) đảm bảo đủ lượng calo;
2) giảm thực phẩm và thói quen ăn kiêng có liên quan cụ thể đến các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi để tái phát ung thư;
3) tạo ra chế độ ăn kiêng giảm thiểu tình trạng viêm, kháng insulin và stress oxy hóa;
4) đảm bảo đủ lượng chất dinh dưỡng cụ thể và bổ sung dinh dưỡng có chọn lọc liên quan đến phòng ngừa/ tái phát ung thư.

1- ĐẢM BẢO ĐỦ LƯỢNG CALO


Ưu tiên và cần thiết, không chỉ để đáp ứng các yêu cầu về sinh lý, mà còn bởi vì nó có thêm lợi ích về tâm lý, tinh thần, xã hội và văn hóa cho bệnh nhân và người chăm sóc. 
Dựa trên nhu cầu cá nhân và các vấn đề lâm sàng của họ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và kiểm soát các triệu chứng và tác dụng phụ như đau, táo bón và mất cảm giác ngon miệng (theo hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ ACS).
 Chế độ calo theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) và đề xuất bởi Mita:
1) Chế độ calo giúp bệnh nhân có được và duy trì cân nặng khỏe mạnh;
2) hạn chế lượng thịt chế biến và thịt đỏ; 
3) ăn ít nhất chén rau và trái cây mỗi ngày; 
4) lựa chọn ngũ cốc nguyên hạt thay vì các sản phẩm ngũ cốc tinh chế;
5) hạn chế lượng muối, đường, dầu mỡ động vật;

6) thói quen nạp calo nên là bữa ăn nhiều calo, giàu năng lượng trong các khẩu phần ăn nhỏ; 

2- GIẢM THỰC PHẨM VÀ THÓI QUEN ĂN KIÊNG LIÊN QUAN CỤ THỂ ĐẾN TÁI PHÁT UNG THƯ


- Tránh ăn thực phẩm có chứa lượng đường dư thừa cao;
- Tránh ăn các loại thực phẩm nghèo dinh dưỡng, giàu năng lượng bao gồm đường tinh chế, kẹo, thực phẩm chiên và thức ăn nhanh;
- Tránh ăn một lượng lớn carbohydrate tinh chế;
- Tránh ăn thịt đỏ;
- Tránh ăn thức ăn chế biến quá kỹ;
- Tránh ăn chế độ ăn nhiều chất béo động vật; 

- Tránh ăn thức ăn chứa nhiều muối.
- Tránh sử dụng "chất kích thích" trừ trường hợp chỉ định của bác sĩ.
 

3. CHẾ ĐỘ ĂN KIÊNG GIẢM THIỂU VIÊM VÀ STRESS OXY HÓA 

Các hợp chất này có cả hoạt động chống viêm và chống oxy hóa. 
-  Gừng;
-  các loại vitamin;
- curcumin / củ nghệ;
- Boswellia serrata (gợi ý ACS);
- nhân sâm Mỹ (gợi ý ACS);
- một số chất chống oxy hóa có trong hoa quả, trái cây (antioxidant)  
 Một chế độ ăn uống lành mạnh giàu rau quả tươi và nấu chín, thịt nạc, kết hợp với việc sử dụng men vi sinh, prebiotic, axit béo không bão hòa đa omega-3 và vitamin D3, là một phần thường được khuyến nghị từ Trung tâm Y học Tích hợp

 3.1) Axit béo omega-3

Acid béo omega-3 cần được bổ sung thêm vào khẩu phần dinh dưỡng hằng ngày. Nghiên cứu về khẩu phần ăn 14 axid béo được phân tích trong nhóm 525 người đàn ông Thụy Điển bị ung thư tuyến tiền liệt. Trong số tất cả nam giới, những người có lượng omega-3 cao nhất và tổng lượng axit béo biển có khả năng tử vong thấp hơn 40% do ung thư tuyến tiền liệt.
 3.2) Vitamin D
Cần bổ sung vitamin D đầy đủ để giúp duy trì sức khỏe tổng thể và chức năng miễn dịch. Từ góc độ sinh lý, một số nghiên cứu ủng hộ tầm quan trọng của vitamin D để giúp kiểm soát ung thư. Dạng hoạt động của vitamin D tương tác với thụ thể vitamin D (VDR) để gây ra các hoạt động chống đông, chống xâm lấn, proapoptotic và prodifferentiation trong các tế bào ung thư tuyến tiền liệt. Trên thực tế, dữ liệu tiền lâm sàng đã chỉ ra rằng vitamin D ảnh hưởng đến 200 gen ảnh hưởng đến sự tăng sinh tế bào, apoptosis, sự hình thành mạch, sự biệt hóa cuối cùng của tế bào ung thư và bình thường và chức năng đại thực bào. Hơn nữa, mối liên quan có lợi đã bị giảm đi giữa những bệnh nhân có người dùng bổ sung vitamin A hoặc vitamin A / β-carotene lưu hành vượt mức. 
Ở Đài Loan, bác sĩ bổ sung vitamin D3 4000UI/ ngày cho bệnh nhân ung thư trong suốt quá trình điều trị. Theo khuyến cáo của Hiệp hội ung thư Mỹ, bệnh nhân ung thư cần bổ sung vitamin D đầy đủ để duy trì mức huyết thanh ít nhất 50 ng/mL. Điều này có thể thực hiện bổ sung hằng ngày với liều vitamin D3 trong khoảng từ 3000 - 5000 UI
3.3) Vitamin tổng hợp và chất chống oxy hóa
Các chất bổ sung được đánh giá trong các nghiên cứu này bao gồm glutathione, melatonin, vitamin A, hỗn hợp chống oxy hóa, vitamin C, N-acetylcystein, vitamin E và axit ellagic. Tôi khuyến cáo các bạn sử dụng nguồn vitamin tổng hợp tự nhiên từ hoa quả, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt hơn là dạng tổng hợp hóa học hoặc ly trích.

Kết luận


Tóm lại, một chế độ dinh dưỡng giàu dinh dưỡng gồm trái cây, rau quả, các loại hạt, tinh bột nguyên vỏ, các sản phẩm từ và thịt trắng hoặc chế độ ăn chay sẽ là cách tốt nhất cho bệnh nhân ung thư và cho bạn cải thiện sức khỏe tổng quát.
Ngoài ra, chế độ ăn uống giàu chất dinh dưỡng nên được kết hợp với việc lựa chọn thực phẩm cho độ tươi, sạch và giảm mức độ chế biến (món luộc là lựa chọn thích hợp).
Hơn nữa, bạn nên chọn đa dạng thực phẩm càng tốt, vì vừa giúp bạn cân bằng dưỡng chất, cảm thấy thoải mái và cảm giác ngon miệng.
 Mọi người thật sự có thể thay đổi chế độ dinh dưỡng lành mạnh, đặc biệt động lực trở nên vô cùng mãnh liệt khi được chẩn đoán là ung thư. Tôi tin tưởng rằng các bác sĩ nên khuyến khích các bệnh nhân và người nhà của bệnh nhân thay đổi chế độ dinh dưỡng như là liệu pháp góp phần vào liệu trình điều trị ung thư, có thể ngăn ngừa di căn hoặc tái phát. 

Tôi hy vọng chia sẻ tổng quát trên đây giúp bạn tìm ra được chế độ dinh dưỡng cải thiện sức khỏe tổng thể và sức khỏe bệnh nhân ung thư cho riêng mình. Những bài viết sau tôi sẽ cụ thể hóa từng đối tượng thực phẩm có lợi cụ thể.
          MỘT SỐ MÓN ĂN GỢI Ý


cá hấp

nạc gà luộc

thịt heo nạc

rau và khoai lang luộc

rau luộc

khoai lang luộc (một dạng tinh bột nguyên)

rau nấm tàu hủ luộc

rau củ nấm luộc




MỘT SỐ GỢI Ý nạp nhiều lượng dinh dưỡng vào cơ thể do Mita ghi dưới dạng video ở đường link này: Cách nạp nhiều dinh dưỡng vào cơ thể


Chúc cả nhà khỏe mạnh!
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy để lại bên dưới, Mita sẽ nỗ lực trả lời trong giới hạn hiểu biết.
Trân trọng,
Mita
Dành thời gian cho điều ý nghĩa! 

----www.mitabio.com--- 

@Page Facebook: Mita

@Youtube: Youtube Mita
@Instagram: mitabio960


Đọc tiếp »

Tuesday, 25 December 2018

NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN VỀ RRBS (REDUCED REPRESENTATION BISULFITE SEQUENCING)


RRBS (Reduced Representation Bisulfite Sequencing)
RRBS kết hợp giữa RE (restriction Enzymes) và BS (Bisulfite Sequencing) vùng genome có tần suất CpG cao (CpG islands). Thay vì giải mã trình tự toàn bộ gene (WGBS) rất tốn kém và không cần thiết cho nghiên cứu về sự thay đổi methyl hóa DNA (DNA methylation). RRBS được Meisser và cộng sự phát triển từ năm 2005 là bước đột phá mới trong nghiên cứu DNA methylation.

Tổng quan về protocol


  • Phân cắt DNA bởi RE (Enzyme digestion)

Đầu tiên DNA genome được cắt thành từng đoạn nhỏ (fragments) bằng cách sử dụng một enzyme cắt giới hạn không nhạy cảm methyl hóa (a methylation-insensitive restriction enzyme). RE này không ảnh hưởng đến trạng thái methyl hóa của vùng CpGs (CpG sites – vùng mà Cytosine đứng cạnh Guanine). RE này cho phép cắt cả vị trí methyl hóa (methylated) và vị trí không methyl hóa (unmethylated).
Mspl (5’CCGG3’) là enzyme thông dụng được sử dụng trong kỹ thuật này (hình …). Kết quả của việc cắt này là những đoạn DNA với các chiều dài khác nhau.



  • Sữa chữa đầu cuối và kết đuôi A

Do đặc điểm của MspI cắt sợi đôi DNA, sản phẩm này tạo ra những đầu dính (sticky ends). Sữa chữa đầu cuối bằng cách thêm một nucleotide A vào đầu 3’ của chuỗi DNA. (phản ứng gồm dCTP, dGTP và ddATP)


  • Sequence adapters: gắn với những đoạn DNA. Để giải trình tự sử dụng máy giải trình tự Illumina Sequencers, những sequence adapters này lai với adapter trên dòng (on the flow cell).
  • Làm sạch những đoạn DNA (fragment purification): những đoạn DNA mong muốn được chọn lọc và làm sạch. Sàng lọc trên gel electrophoresis. Theo Gu và cộng sự thì những đoạn DNA có chiều dài 40-220 bq là tiêu biểu cho vùng promoter hay CpG islands.
  • Bisulfite conversion: Những đoạn DNA này được thực hiện bisulfite conversion. Phản ứng này khử unmethylated Cytosine thành Uracil. Những methylated Cytosine được giữ nguyên vì nhóm methyl trên methylated cytosine được bảo vệ bởi phản ứng bisulfite conversion.
  • PCR: Những đoạn DNA đã chuyển đổi bisulfite được khuếch đại bằng PCR với cặp mồi bổ sung đoạn adapters sequence.
  • Làm sạch sản phẩm PCR: loại bỏ reagents như dNTPs hay muối. Run gels hoặc sử dụng kit chuyên biệt cho làm sạch sản phẩm PCR.
  • Sequencing: Những đoạn fragments sẽ được giải trình tự. Trước đây, người ta dùng Sanger sequencing để giải trình tự, bây giờ là NGS (next generation sequencing – Illumina sequencing), 36-base single-end sequencing reads được thực hiện phổ biến nhất.
  • Sequencing alignment và analysis: do đặc điểm đặc biệt của RRBS, phải sử dụng những phần mềm đặc biệt để phân tích. Bởi việc sử dụng enzyme MspI để cắt (digest) những đoạn DNA fragment nên các đoạn luôn bắt đầu bằng C (nếu cytosine bị methyl hóa) hoặc T (nếu cytosine không bị methyl hóa và được chuyển thành uracil trong bisulfite conversion). Do đó, khi align một phần cặp sơ sở không ngẫu nhiên. Ngoài ra, còn một phần bị lệch do tần số sai lệch của C và T trong các mẫu. Những phần mềm để align và phân tích RRBS như Maq, BS Seeker, Bismark hoặc BSMAP.

---www.mitabio.com---
Tài liệu tham khảo:
1. https://www.illumina.com/
2. Alexander Meisser, Andreas Gnirke, George W.Bell, Bernard Ramsahoye Eric S. Lander, Rudolf Jaenisch, Reduced representation bisulfite sequencing for comparative high-resolution DNA methylation analysis, Nucleic Acids Research, Vol.33, Issue 18, January 2005, p.5868-5877






Đọc tiếp »