Showing posts with label medicalsciences. Show all posts
Showing posts with label medicalsciences. Show all posts

Sunday, 30 June 2019

SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG VÀ UNG THƯ


Tôi không ăn đường trong nhiều năm. Tôi ăn trái cây, nhưng tôi không ăn bất cứ thứ gì có thêm đường. Tôi tin rằng mọi người sẽ tốt hơn nếu không ăn bất kỳ loại thực phẩm được thêm đường. Khi được nói chuyện với Lewis Cantley (một giám đốc trung tâm Ung thư Sandra và Edward Meyer tại Weill Cornell, Mỹ), tôi được biết Tiến sĩ Cantley không bao giờ ăn bất kỳ thực phẩm được thêm đường trong nhiều thập kỷ (cụ thể hơn 40 năm) chứ không phải chỉ là nhiều năm như tôi.  Mita

GIỚI THIỆU

Ý tưởng để viết bài ‘Sự thật về Đường và Ung thư” là khi tôi được đồng nghiệp trình bày trong buổi họp khoa học định kỳ với bài báo “High Glucose Triggers Nucleotide Imbalance through O-GlcNAcylation of Key Enzymes and Induces KRAS Mutation in Pancreatic Cells” được đăng trên tờ Cell Metabolism (một tạp chí top 1 về khoa học y khoa, IF = 22.415) hôm ngày 4 tháng 6 năm 2019. Nhóm tác giả công bố về những bệnh nhân ung thư tuyến tụy hấp thu với lượng đường cao gây ra đột biến KRAS, một gene đột biến khởi đầu ung thư tuyến tụy. Thực ra, lượng đường cao trong cơ thể gây ra đột biến khá nhiều gene chứ không chỉ riêng KRAS, KRAS chỉ là một trường hợp được đề cập trong bài báo của nhóm tác giả này mà thôi (Hu CM, và cộng sự, 2019).
Ý tưởng sớm được viết hoàn chỉnh hơn nhờ động lực của các thành viên cộng đồng BỆNH VIỆN ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ ONLINE do MedixLink thành lập trên Facebook (thực ra đây là nơi hỗ trợ bệnh nhân ung thư thì đúng hơn là bệnh viện điều trị bệnh ung thư cả nhà ạ) mong muốn được hiểu rõ SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG VÀ BỆNH NHÂN UNG THƯ.

ĐƯỜNG CÓ MẶT TRONG THỰC PHẨM CỦA BẠN?

Đường mà tế bào của bạn cần đến từ chế độ ăn uống của bạn mỗi ngày. Đường có đến 60 cái tên khác nhau. Tạm chia đường thành hai nhóm: nhóm phân tử nhỏ, thường được biết đến với gốc –ose ở đuôi (như glucose, fructose, maltose, sucrose, ….), nhóm này tan trong nước, có vị ngọt và nhóm phân tử lớn hay còn gọi là polisaccharides, thành phần chính của tinh bột (như gạo, bánh mì, rau củ quả), nhóm này không tan trong nước, không có vị ngọt. Cụ thể, bạn nạp đường vào cơ thể từ: trái cây chín (fructose), rau củ (glucose), sữa (lactose), carbohydrate (bánh mì, gạo), nước ngọt, bánh kẹo, ….

GLUCOSE QUAN TRỌNG VỚI CƠ THỂ NHƯ THẾ NÀO?

GLUCOSE LÀ NHIÊN LIỆU CỦA TẾ BÀO. Tế bào cần năng lượng (ATP) để tham gia các quá trình chuyển hóa bên trong cơ thể, giúp chúng ta nhìn, chúng ta thở, chúng ta cảm giác, chúng ta suy nghĩ và .... Và quá trình tạo ra ATP bắt đầu từ glucose. Glucose là nhiên liệu cơ bản nhất của tế bào. Nếu chúng ta ăn hoặc uống glucose (nước ngọt, bánh kẹo) thì glucose được hấp thụ trực tiếp vào máu và sẵn sàng cho tế bào sử dụng. Nếu chúng ta ăn tinh bột (khoai lang, khoai mì, …) thì một loại enzyme tên là saliva (amylase, từ tuyến nước bọt) sẽ phân cắt các phân tử polisacharide này và chuyển hóa thành glucose cho tế bào sử dụng. Một số trường hợp, chế độ ăn loại bỏ hoàn toàn carbohydrate (không có bất kỳ thành phần nào chuyển thành glucose) thì tế bào sẽ đốt cháy mỡ và phân giải protein thành glucose để sử dụng.
Các bạn biết đấy, ung thư là bệnh của tế bào!!!

ĐƯỜNG và UNG THƯ

Tế bào ung thư phát triển cực nhanh, nên chúng cần lượng lớn năng lượng. Có nghĩa là chúng cần lượng lớn glucose. Ngoài ra, tế bào ung thư cũng cần lượng lớn nguồn dinh dưỡng khác như amino acids, chất béo chứ không chỉ đường.
Một câu hỏi đặt ra rằng: nếu tế bào ung thư cần nhiều đường như thế thì chúng ta cắt bỏ hoàn toàn đường ra chế độ ăn để ngừng sự phát triển ung thư? NO NO NO KHÔNG ĐƠN GIẢN NHƯ VẬY!!!!!!!!! TẤT CẢ TẾ BÀO KHỎE MẠNH VÀ UNG THƯ ĐỀU CẦN ĐƯỜNG ĐỂ TỒN TẠI CÁC BẠN Ạ.
Hiện nay vẫn chưa có bằng chứng nào báo cáo về việc LOẠI BỎ HOÀN TOÀN ĐƯỜNG RA KHỎI CHẾ ĐỘ ĂN thì giảm nguy cơ ung thư và kéo dài thời gian sống của BỆNH NHÂN UNG THƯ. Nhưng có công bố ở chuột (Hopskin, 2018) về một chế độ ăn hạn chế nghiêm ngặt carbohydrate (chế độ keto) kết hợp với thuốc chống PI3K thì khối u đã co lại.

TẠI SAO CHÚNG TA LO LẮNG NẾU ĐƯỜNG KHÔNG PHẢI NGUYÊN NGÂN GÂY UNG THƯ?

Đường không phải là tác nhân TRỰC TIẾP gây bệnh ung thư. Tại sao chúng ta luôn khuyến khích giảm thiểu lượng đường trong chế độ ăn hằng ngày.
Lý do thứ nhất: tăng cân do tiêu thụ lượng đường lớn trong thời gian dài là nguyên nhân gây ung thư. Mà béo phì làm tăng nguy cơ của 13 loại ung thư (Tổ chức CRU công bố), đứng sau thuốc lá.
Lý do thứ hai: khi lượng đường trong máu biến động đột ngột, cơ thể bạn bị rối loạn đáp ứng với đường. Khi lượng đường trong máu tăng cao, cơ thể giải bạn giải phóng chất tăng trưởng giống như insulin (IGF), đặc biệt ở người bị kháng insulin (insulin-resistant), yếu tố này giúp tế bào ung thư phát triển. Nếu bạn kiểm soát được mức độ đường huyết trong máu thì IGF giải phóng ít hơn và có khả năng làm giảm sự phát triển ung thư. Có nghĩa là, insulin cao là con đường dẫn đến ung thư, mà đường là tác nhân gây insulin cao (Marcia N. Paddock, và cs, 2019).

CÁCH CHÚNG TA CẮT GIẢM ĐƯỜNG

Để giảm thiểu sự thay đổi đột ngột lượng đường trong máu, bạn không nên tránh tất cả các loại đường trong thực phẩm mà bạn hãy là người thông thái khi quyết định cái gì nên và cái gì không nên nuốt vào dạ dày. Nếu bạn ăn chất xơ, protein, chất béo giúp cơ thể bạn tạo ít insulin hơn để đáp ứng với đường đơn. Sau đây là một số cách Mita gợi ý:
  1. Thay vì ăn khoai tây chiên, chọn các loại hạt. Thay vì chọn các loại hạt tẩm đường thì chỉ chọn loại hạt rang chín không gia vị.
  2. Thay vì uống nước ngọt, chọn nước suối.
  3. Thay vì ăn bánh kẹo, chọn hoa quả.
  4. Thay vì ăn cơm trắng thì chọn cơm nâu hoặc các loại củ thay thế.
  5. Thay vì ăn nhiều hoa quả thì chọn thêm ít rau xanh.
  6. Cố gắng không ăn món tráng miệng sau bữa ăn mà để dành giữa các bữa ăn.

DÀNH CHO BẠN

  1. Giới hạn đường đơn và tinh bột tách cám trong chế độ ăn của bạn, những món này gồm kẹo, bánh ngọt, thực phẩm nướng, hoa quả khô, bánh mì trắng, gạo trắng.
  2. Giảm hấp thụ đường từ các loại nước uống chứa đường như nước ngọt, nước ép trái cây, soda.
  3. Nạp đường vào cơ thể từ nguồn gốc tự nhiên vì nhóm thực phẩm này ngoài chứa đường (năng lượng cơ bản của tế bào) chúng còn chứa rất nhiều dinh dưỡng như vitamins, khoáng, chất chống oxi hóa (antioxidants), hóa chất thực vật (phytochemicals), và chất xơ là những chất rất tốt cho cơ thể.
  4. Ăn uống lành mạnh chính là ăn đa dạng thực phẩm và chọn lựa những thực phẩm tốt cho sức khỏe, một gợi ý như sau tinh bột nguyên cám (1 phần), thịt nạc (3 phần) , rau xanh (4 phần) và trái cây (2 phần).



Mita hy vọng bài viết này có thể hỗ trợ cho bạn phần nào trong cuộc hành trình chiến đấu với ung thư. Chúc các bạn luôn nhận được năng lượng bình an !


Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy để lại bên dưới, Mita sẽ nỗ lực trả lời trong giới hạn hiểu biết.
Trân trọng,
Mita
Dành thời gian cho điều ý nghĩa!


Tài liệu tham khảo
[1] Hu CM, Tien SC, Hsieh PK, Jeng YM, Chang MC, Chang YT, Chen YJ, Lee EYP, Lee WH, High Glucose Triggers Nucleotide Imbalance through O-GlcNAcylation of Key Enzymes and Induces KRAS Mutation in Pancreatic Cells, Cell Metab., 2019 June 4, 29(6): 1334-1349.e.10.
[2] Paddock MN, field SJ, Cantley LC, Treating cancer with phosphatidylinositol-3-kinase inhibitors: increasing efficacy and overcoming resistance, J Lipid Res., 2019 Apr, 60(4): 747-752.


KẾT NỐI VỚI MITA

----www.mitabio.com--- 
@Page Facebook: Mita
@Youtube: Youtube Mita
@Instagram: mitabio960



Đọc tiếp »

Saturday, 22 June 2019

ĐAU TRONG UNG THƯ VÀ CÁCH KIỂM SOÁT ĐAU UNG THƯ


(bạn muốn xem rõ hình hoặc download hình vui lòng click vào hình để rõ hơn nhé, thân)
Mita mong muốn được chia sớt bớt phần nỗi đau của các bạn đang chiến đấu với UT. Bài viết này góp phần cho bạn có cái nhìn toàn diện về nỗi đau của chính mình và từ đó có chiến lược quản lý nỗi đau cải thiện cuộc sống trong phạm vi của bệnh nhân UT.

Đau là phổ biến ở bệnh nhân UT nhưng không phải tất cả mọi bệnh nhân UT đều bị đau do ung thư (có nghĩa là có bệnh nhân bị đau/ có bệnh nhân không bị đau do UT) mà bị đau gây ra bởi phương pháp điều trị UT. Trong trường hợp UT lan rộng hoặc tái phát thì khả năng bạn bị đau cao hơn bình thường (Treatment of cancer pain, Lancet, 2011). Cơn đau rất đa dạng làm cho chất lượng cuộc sống của bạn giảm sút, đôi khi da bạn tái mẹt, cảm giác đau đớn, cảm giác nóng khó chịu bên trong. Đôi khi ‘đau’ liên tục, đôi khi ‘đau’ thoáng qua, có lúc nhẹ, có lúc trung bình hoặc nghiêm trọng (một cảm giác như thấu cả trời xanh vậy). Mức độ đau tùy thuộc vào nhiều yếu tố: loại UT mắc phải, mức độ tiến triển của UT, vị trí UT và khả năng chịu đau của bạn. Trên tờ Ann Oncol thống kê có 33% ở bệnh nhân ‘đau’ sau điều trị, 59% ở bệnh nhân đang điều trị chống ung thư và 64% ở những bệnh nhân bị bệnh di căn, tiến triển hoặc giai đoạn cuối. Trên tờ Pain Med báo cáo đau có tỷ lệ mắc bệnh sớm trong các loại ung thư cụ thể như ung thư tuyến tụy (44%) và ung thư đầu và cổ (40%).

Và hầu hết các cơn đau UT đều có thể kiểm soát được và việc kiểm soát cơn đau của bạn là điều cần thiết trong tiến trình điều trị UT của bạn. Để kiểm soát đau do ung thư, bệnh nhân được sử dụng thuốc giảm đau như một cách tiếp cận tích hợp để quản lý đau ung thư và điều này nên được kết hợp chặt chẽ với:

 (i) phương pháp điều trị chống ung thư chính;

(ii) liệu pháp giảm đau can thiệp và

(iii) một loạt các kỹ thuật không xâm lấn như tâm lý và

(iv) can thiệp phục hồi chức năng.


Cái gì gây ra cơn đau UT?

1)    Cơn đau do UT gây ra:

Nếu cơn đau là do ung thư, nó có thể là do ung thư phát triển thành hoặc phá hủy các mô lân cận. Khi một khối u phát triển, nó có thể đè lên dây thần kinh, xương hoặc các cơ quan. Khối u cũng có thể giải phóng các hóa chất có thể gây đau. Hoặc phản ứng của cơ thể bạn với các hóa chất có thể gây đau.

2)    Cơn đau do phương pháp điều trị UT gây ra:

Điều trị ung thư có thể giúp giảm đau trong những tình huống này. Tuy nhiên, phương pháp điều trị ung thư, bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, cũng có thể gây đau.


Sự hiện diện cơn đau có thể thuộc hai nhóm sau:
Nhóm 1 (nociceptive): gây ra bởi tổn thương mô liên tục, hoặc soma (như đau xương), hoặc nội tạng (như đau ruột hoặc gan, …)
Nhóm 2 (Neuropathic): gây ra bởi tổn thương hoặc rối loạn chức năng trong hệ thống thần kinh, chẳng hạn như trong bệnh lý cơ tim hoặc ở cột sống chèn ép dây thần kinh do khối u.

Đau do cách điều trị UT

Có nhiều cách khác nhau. Một là loại bỏ nguồn cơn đau thông qua phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc điều trị khác. Mỗi loại điều trị có tác dụng phụ riêng.

1)     Phẫu thuật. Phẫu thuật cắt bỏ ung thư có thể dẫn đến đau ở khu vực phẫu thuật. Phần lớn các cơn đau sau phẫu thuật được cho là có liên quan đến chấn thương thần kinh xảy ra trong quá trình phẫu thuật. Những người bị cắt bỏ chân tay hoặc vú có thể cảm thấy đau như thể chân tay hoặc vú vẫn còn (đau ảo).
2)     Xạ trị. Những phương pháp điều trị này có thể gây đỏ và cảm giác nóng rát của da. Tùy thuộc vào bộ phận nào của cơ thể mà bức xạ được áp dụng, nó có thể gây ra tiêu chảy, lở miệng hoặc các vấn đề khác, chẳng hạn như mệt mỏi.
3)     Hóa trị. Tác dụng phụ có thể bao gồm buồn nôn, mệt mỏi, nhiễm trùng, rụng tóc và đau dây thần kinh (bệnh thần kinh). Thuốc có thể giúp giảm bớt các tác dụng phụ. Kỹ thuật thư giãn cũng có thể giúp đỡ.
4)     Thuốc giảm đau mạnh. Một trong những tác dụng phụ phổ biến của opioids là táo bón. Nó có thể được điều trị bằng thuốc làm mềm phân và thuốc nhuận tràng được bác sĩ khuyên dùng. Ngăn ngừa táo bón dễ hơn điều trị, vì vậy trước khi bạn bắt đầu dùng thuốc phiện hãy hỏi bác sĩ những gì bạn nên làm để giữ cho ruột của bạn di chuyển. Các tác dụng phụ khác của thuốc giảm đau mạnh bao gồm buồn nôn, nôn và buồn ngủ. Những điều này thường xảy ra với một vài liều đầu tiên và biến mất sau vài ngày dùng thuốc.
5)     Thuốc giảm đau khác. Thuốc giảm đau không kê đơn thông thường có thể làm hỏng thận của bạn, gây loét hoặc tăng huyết áp. Aspirin có thể gây chảy máu đường tiêu hóa và acetaminophen (Tylenol, những loại khác) có thể gây tổn thương gan nếu bạn uống quá nhiều hoặc uống rượu trong khi dùng thuốc.

NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ ĐAU

1)    Phía bệnh nhân
  • -         Được thông báo về khả năng khởi phát cơn đau ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh, cả trong/ sau khi can thiệp chẩn đoán UT và tác dụng không mong muốn của liệu pháp điều trị UT/ chống UT.
  • -         Bệnh nhân chủ động giao tiếp với bác sĩ về ‘nỗi đau’ của chính mình, về hiệu quả của trị liệu và tác dụng không mong muốn của liệu pháp trị liệu gây ra. Để giao tiếp tốt với bác sĩ điều trị, bệnh nhân cần có chiến lược quản lý cơn đau bằng tự đánh giá cơn đau (Mita sẽ hướng dẫn cách bệnh nhân và người thân thực hiện điều này ở bên dưới bài viết).
  • -         Bệnh nhân được hiểu rõ về thông tin sử dụng opioid thích hợp.

2)    Phía Bác sĩ
Hình 1. Lộ trình điều trị giảm đau ung thư theo WHO
  • -         Phải thông báo cho bệnh nhân rõ các giai đoạn gây đau trong quá trình can thiệp chẩn đoán cũng như trong quá trình trị liệu.
  • -         Giải thích cho bệnh nhân hiểu rõ về thông tin sử dụng opioid thích hợp.
  • -         Trao đổi chi tiết và nhất quán với bệnh nhân/ người chăm sóc của bệnh nhân để hiểu rõ cơn đau của bệnh nhân, từ đó kê toa thuốc giảm đau tối ưu và tác dụng phụ tối thiểu.

CÁCH ĐÁNH GIÁ CƠN ĐAU CỦA BẠN

Đánh giá ban đầu và liên tục về cơn đau nên là một phần không thể thiếu chăm sóc ung thư và bước đầu trong chuỗi điều trị UT hiệu quả. Thang đánh giá bằng lời nói (xác định sự hiện diện cơn đau) và bằng số (xác định mức độ của cơn đau).
Ở bệnh nhân cao tuổi, kỹ năng giao tiếp hạn chế hoặc nhận thức suy giảm hoặc trẻ nhỏ nên người chăm sóc chú ý biểu hiện khuôn mặt, cử động cơ thể, lời nói hoặc giọng nói, thay đổi trong cá nhân tương tác (nhạy cảm với sự chạm nhẹ vào da), thay đổi trong hoạt động thường ngày là chiến lược thay thế để đánh giá sự hiện diện của cơn đau (nhưng không phải đánh giá cường độ đau).
Điều đáng lưu ý là đau khổ tâm lý xã hội liên quan mạnh mẽ với nỗi đau ung thư. Đau khổ tâm lý có thể khuếch đại đau và tương tự, đau được kiểm soát không đầy đủ có thể gây đa khổ tâm lý.


Hình 2. Theo dõi đau 1 (theo nhận dạng biểu cảm khuôn mặt)


Hình 3. Theo dõi đau 2 (theo mức độ đau)

Mita hy vọng bài viết này có thể hỗ trợ cho bạn phần nào giảm nhẹ bệnh trong cuộc hành trình chiến đấu với ung thư. Chúc các bạn luôn nhận được năng lượng bình an !

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy để lại bên dưới, Mita sẽ nỗ lực trả lời trong giới hạn hiểu biết.
Trân trọng,
Mita
Dành thời gian cho điều ý nghĩa! 

----www.mitabio.com--- 

@Page Facebook: Mita

@Youtube: Youtube Mita
@Instagram: mitabio960




Đọc tiếp »

Thursday, 18 April 2019

NÊN TẬP THỂ DỤC BUỔI SÁNG HAY BUỔI TỐI?



DOES TIME OF DAY AFFECT THE BODY'S RESPONSE TO EXERCISE?
New research confirms that the circadian clock is an important factor in how the body responds to physical exertion. Based on this work alone, it's too early to say when the best time is for you to go for a jog. But at least in the lab, exercise in the evening seems to be more productive, although human lifestyles are much complicated.
--
Hai bài báo được đăng ngày 18 tháng 4 trên Cell Metabolism xác nhận rằng đồng hồ sinh học là yếu tố quan trọng trong cách cơ thể phản ứng với sự nỗ lực thể chất. Kết quả nghiên cứu chưa đủ để đưa ra kết luận là thời gian nào trong ngày là tốt nhất để tập thể dục nhưng kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng tập thể dục buổi tối có hiệu quả hơn khoảng thời gian khác trong ngày.
Gad Asher thuộc Khoa Khoa học Sinh Học Phân tử Viện Khoa học Weizmann (chuyên gia đầu ngành lĩnh vực này) cho hay hầu hết sự trao đổi chất và khía cạnh sinh lý đều liên quan đến đồng hồ sinh học ở người và cả những sinh vật nhạy cảm với ánh sáng. Những nghiên cứu trước đây từ phòng thí nghiệm công bố rằng ít nhất 50% quá trình trao đổi chất của chúng ta là sinh học và ít nhất 50% các chất chuyển hóa trong cơ thể của chúng ta dao động dựa trên chu kỳ sinh học. Có nghĩa là, tập thể dục cũng là một trong những điều ảnh hưởng đến quá trình này.
Thử nghiệm trên chuột (cho chuột tập thể dục buổi tối) cho thấy, ZMP (5-aminoimidazole-4-carboxamide ribonucleotide) được biết là chất kích hoạt con đường trao đổi chất có liên quan đến quá trình glycolysis (góp phần chuyển hóa đường và sản xuất năng lượng) và oxy hóa acid béo (đốt cháy chất béo) thông qua kích hoạt AMPK, một chất điều hòa chuyển hóa tế bào (master cells metabolism regulator). ZMP cũng là chất nội sinh của AICAR (aminoimidazole carboxamide riboside) một hợp chất doping mà các vận động viên sử dụng.
Kết quả trên người cũng tương tự, mức tiêu thụ oxy ở người tập thể dục buổi tối thấp hơn buổi sáng. Điều này cho thấy tập thể dục buổi tối tốt hơn buổi sáng.
Mặc dù được biết rằng đồng hồ sinh học của con người được bảo tồn qua các thời kỳ tiến hóa, và việc giải thích điều này không đơn giản như vậy. Một lý do lớn nhất chính là con người có nhiều biến thể về thời gian hơn các sinh vật khác "BẠN CÓ THỂ LÀ NGƯỜI BUỔI SÁNG HOẶC BẠN CÓ THỂ LÀ NGƯỜI BAN ĐÊM, tất cả những điều này cần phải được đề cập" theo Sassone-Corsi.
----theo Cell Press---
Cá nhân Mita thì, sáng tập yoya cho cơ khớp bớt căng, cho đầu óc thư thái để bắt đầu một ngày dài cho công việc. Trước đây, chiều tối chỉ tập cái gì đó có thể đổ mồ hôi ra là được. Còn gần đây, có một mission mới nên Mita chạy bộ + đi bộ tầm 10 km với leo cầu thang tầm 1000 bậc tầm 6-8 giờ tối. Vừa cảm thấy refresh cái não, với cái thân cả ngày vất vã thế thôi. 
Đọc tiếp »

Friday, 5 April 2019

BÍ ĐỎ TỐT CHO SỨC KHỎE CỦA BẠN NHƯ THẾ NÀO?

LỢI ÍCH CỦA BÍ ĐỎ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE BẠN


1) Giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Do bí đỏ chứa nhiều chất chống oxi hóa như physterol có tác dụng giảm lượng cholesterol trong máu.
2) Giảm căng thẳng mệt mỏi
Kali chứa nhiều trong bí đỏ giúp bạn kiểm soát căng thẳng do làm việc trí óc hay đến ngày thi cử, báo cáo cuối kỳ. Đối với bệnh nhân bị bệnh trầm cảm, thần kinh căng thẳng kéo dài nên sử dụng bí đỏ thường xuyên hơn bởi vì nhờ bổ sung bí ngô mà lượng L-tryptophan trong cơ thể tăng lên giúp bạn cảm thấy thoải mái dễ chịu.
3) Cải thiện hệ miễn dịch và hệ tiêu hóa tổng quát
Nếu bạn hay ốm vặt hãy bớt phần cơm/ bánh mì thay vào đó là phần bí đỏ hoặc các loại củ để hệ miễn dịch của bạn được cải thiện. Nếu hệ tiêu hóa của bạn có vấn đề nhất là bệnh táo bón hãy thử dùng bí đỏ hấp hay sinh tố bí đỏ vài hôm nhé!
4) Làm chậm quá trình thoái hóa điểm vàng do tuổi tác
Bí đỏ chứa beta carotene và lutein - là những thành phần cần thiết cho sự kéo dài tuổi thọ của mắt.
Hai loại bí đỏ khác nhau, loại nào bạn thích cứ ăn nhé <3

TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

Sử dụng lượng quá lớn bí đỏ cũng có thể bị rối loạn tiêu hóa, bạn sẽ cảm giác buồn nôn, khó thở, đau bụng.
Loại bí này hồi nhỏ mình ăn, chứ giờ cũng ít được thấy :)

BÍ ĐỎ SỬ DỤNG NHƯ THẾ NÀO?

1) Hấp
2) Kho
3) Nấu chè
4) Hầm với xương, nấm khô
5) Xào 
6) Sữa bí đỏ
7) Smoothies bí đỏ
Bí đỏ hấp


CÁCH MÌNH SỬ DỤNG BÍ ĐỎ


Hồi còn ở nhà với các em, bọn mình thường thái lát mỏng rồi kho bí đỏ để ăn cùng với cơm hoặc bún. Thời gian gần đây, mình thường hấp bí đỏ rồi làm món smoothies với sữa chua và ăn buổi sáng. Mỗi hai tuần mình ăn một quả bí đỏ nhỏ, khoảng gần một lít smoothies.
Smoothies bí đỏ với sữa chua

--Bạn có thể tìm thấy nhiều món smoothies với các loại rau quả khác do mình làm ở đường link này: Mita Morning Smoothies
--Chúc các bạn luôn luôn khỏe mạnh và không bao giờ phải đến bệnh viện vì bệnh nhé!--
Nếu bạn có bất cứ thắc mắc nào hãy để lời bình luận bên dưới bài viết. Cảm ơn bạn!
Mita @www.mitabio.com
Đọc tiếp »

Cần tây và sức khỏe của bạn

LỢI ÍCH SỨC KHỎE TỪ CÂY CẦN TÂY

Hình từ verywell


1) Kiểm soát đường huyết, giảm cholesterol
Bởi vì cần tây chứa nhiều chất xơ giúp kiểm soát đường huyết ở những người bị tiểu đường. Cũng chính lượng chất xơ này có tác dụng loại bỏ cholesterol ra khỏi máu thông qua đường tiểu.
2) Cải thiện hệ miễn dịch
Cần tây giàu lượng vitamin C nên giúp hệ thống miễn dịch của bạn cải thiện, sử dụng cần tây đều đặn mỗi tuần hoặc mỗi tháng bạn sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh cảm lạnh hoặc các bệnh lý thông thường cũng được cải thiện đáng kể.
3) Giảm thoái hóa điểm vàng do tuổi tác
4) Ổn định thần kinh, giảm căng thẳng
5) Giảm cân
6) Giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh viêm nhiễm

CÁCH SỬ DỤNG


1) Xào với các loại rau củ khác hoặc với mực hoặc với thịt bò.
2) Thái nhuyễn thêm vào cháo hoặc súp.
3) Thân cần tây già có thể hầm với rau củ lấy nước súp.
4) Thái sợi thêm vào các món trộn, gỏi, nộm.
5) Ép lấy nước uống.
6) Bổ sung với các loại rau củ khác chế biến món smoothies (sinh tố).

THỜI ĐIỂM SỬ DỤNG


1) Bất kỳ thời điểm nào nếu bạn sử dụng lượng ít kèm theo như món xào, súp, cháo, nước súp.
2) Nên sử dụng buổi sáng  nếu là nước ép hoặc sinh tố.

MỘT SỐ ĐIỀU CHÚ Ý


1) Dị ứng với cần tây. Trường hợp bạn bị dị ứng với loại thực phẩm này nên tránh hoặc hạn chế sử dụng. Bởi một số chất trong cơ thể bạn sẽ phản ứng chéo với chất trong cần tây gây ra những triệu chứng buồn nôn, ói, nổi mề đay, khó tiêu. Bởi thực phẩm thiên nhiên đa dạng lắm, bạn không dùng một loại cần tây cũng không sao cả đâu. 
2) Huyết áp cao. Cần tây chứa lượng muối natri sodium khá cao so với các loại rau củ thông thường, trường hợp bạn bị huyết áp cao nên dùng với lượng vừa phải và cách khoảng sử dụng. 

MÌNH SỬ DỤNG CẦN TÂY NHƯ THẾ NÀO?


Mình cách một tháng mua một chân cần tây (loại mình mua cũng hơi to, cỡ 500gr). Một phần để làm smoothies với các loại khác, một phần ép lấy nước thêm chanh, gừng để uống (mỗi tháng một ly nước ép thôi), phần chân cần tây già quá mình cho hầm cùng với rau củ lấy nước súp.
Nước ép cần tây với chanh-gừng


---hãy lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc để sử dụng các bạn nhé --- 

Hy vọng bài viết cho bạn chút ít thông tin dinh dưỡng hữu ích cho bạn - lựa chọn thông minh cho cơ thể khỏe mạnh - và nói không với việc đến bệnh viện các bạn nhé!

Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào xin hãy comment bên dưới! Cảm ơn!
Đây là link: mình chia sẻ về lợi ích của cần tây - món nước ép cần tây và một số loại nước ép, smoothies khác: https://bom.to/Ptqo6
----@www.mitabio.com----

Đọc tiếp »

Thursday, 10 January 2019

Cell Viability Assay - MTT Assay


{English below}
 Thử nghiệm MTT là gì?
Thử nghiệm MTT là một thử nghiệm so màu đánh giá sự hoạt động của tế bào, [1] xác định số lượng tế bào sống hiện diện.
Nguyên tắc phản ứng là gì?
Enzyme oxidoreductase tế bào NAD(P)H phụ thuộc tồn tại phần lớn trong cytosolic của tế bào sống. Những enzyme oxidoreductase tế bào NAD(P)H-phụ thuộc thể hiện số lượng tế bào sống hiện diện, những enzyme này có thể làm giảm màu thuốc nhuộm MTT thành dạng formanzan không hòa tan.
Hình phản ứng của thuốc nhuộm MTT tạo thành tủa formazan

 Có những loại thuốc nhuộm nào? 
Các thuốc nhuộm thông thường: XTT, MTS, WST. Thuốc thử MTT rất nhạy cảm với ánh sáng. WST-1 không thấm được màng tế bào, sự khử xảy ra bên ngoài tế bào thông qua sự vận chuyển điện tử màng plasma [2].

  • MTT – một tetrazole màu vàng, bị khử thành formazan màu tím (dạng tủa) trong tế bào sống [3]. Sau đó, sử dụng DMSO (hoặc một số chất khác) để hòa tan thành dung dịch màu trước khi đo mức độ hấp thụ màu. Độ hấp thụ dung dịch này có để định lượng bằng cách đo ở một bước song nhất định bằng máy quang phổ (thường 500-600nm). Độ hấp thụ phụ thuộc vào dung môi hòa tan.
  • XTT – (2,3-bis-(2-methoxyl-4-nitro-5-sulfophenyl)-2H-tetrazolium-5-carboxanilile) có thể thay thế MTT, loại thuốc thử này có tính nhạy cảm cao hơn MTT và sử dụng đơn giản hơn. Sản phẩm của phản ứng này có thể hòa tan trong nước trước khi đo độ hấp thụ. 
  • MST (3-(45-dimethylthiazol-2-yl)-5-(3-carboxymethoxyphenyl)-2-(4-sulfophenyl)-2H-tetrazolium), trong sự có mặt của phenazine methosulfate (PMS) bị khử tạo thành sản phẩm tan trong dung môi muối đệm phosphate, và hấp thu ở bước sóng tối đa 490 nm.
  • WST (muối tetrazolium tan trong nước) là một loạt các thuốc nhuộm hòa tan trong nước. Sản phẩm formazan của thuốc nhuộm này có thể đọc trực tiếp không cần thông qua bước hòa tan trước khi đọc. WST cho tín hiệu hiệu quả hơn MTT. Ngoài ra, WST còn giảm độc tính cho tế bào (không giống như MTT thấm vào tế bào và formazan tích lũy bên trong các tế bào) [4]. 
Thuốc nhuộm WST từ màu hồng chuyển màu cam (hình thực nghiệm) 

-English-
What is MTT assay? 
MTT assay is coloricmetric assay for vadiating cell metabolic activity [1], make out the number of viable cells present. 
MTT assay or viability assay or CCK-8 assay are different names as the same function and the same protocol.
 What is the principle of MTT assay? 
NAD(P)H-dependent oxidoreductase enzymes is largely assumed in the cytosolic compartment of the cell. These enzymes are able to reduce the tetrazolium dye MTT 3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium bromide to insoluble formazan.
MTT reaction produces formazan product

How many kinds of dyes?  
The tetrazolium dye includes XTT, MTS, WST. They are very sensitive with light. Specially, WST-1 is cell-impermeable, the reduction occurs outside the cell via plasma membrane electron transport [2].
  • MTT- yellow tetrazole, is reduced to purple formazan in living cells [3]. Then, using DMSO to soluble formazan product into a colored solution. Measuring this colored solution at a certain wavelength by spectrophotometer. The degree of light absorption depends on the solvent.
  • XTT (2,3-bis-(2-methoxy-4-nitrp-5-sulfophenyl)-2H-tetrazolium-5-carboxanilide) is able to replace MTT, highly sensitivity and dynamic range. The formed formazan dye is water-soluble, avoiding a final solubilization step.
  • MST (3-(45-dimethylthiazol-2-yl)-5-(3-carboxymethoxyphenyl)-2-(4-sulfophenyl)-2H-tetrazolium), in present of phenazine methosulfate (PMS), produces a formazan product has an absorbance maximum at 490 nm in phosphate-buffered saline.
  • WST (water-soluble tetrazolium salts) is water-soluble dye for MTT assays. WST assay can be read directly (unlike MTT that need a solubilization step), give a more effective signal than MTT, decrease toxicity to cells (unlike cell-permeable MTT, and its insoluble formazan that accumulate inside cells).
Pink WST produced orange formazan (true experiment)

---References--

1. Stockert JC, Horobin RW, Colombo LL, and Blázquez-Castro A. Tetrazolium salts and formazan products in Cell Biology: Viability assessment, fluorescence imaging, and labeling perspectives. Acta Histochemica 120: 159-167 (2018).
 2. Berridge MV, Herst PM , and Tan AS. Tetrazolium dyes as tools in cell biology: new insights into their cellular reduction. Biotechnology Annual Review, 11: 127-152 (2005).
3. Mosmann, Tim, Rapid colirimetric assay for cellular growth and survival: application to proliferation and cytotoxicity assays, Journal of Immunological Methods, 65 (1-2): 55-63 (1983).



Đọc tiếp »